Bắc Kạn trên bước đường hình thành và phát triển

Trong quá trình phát triển của nhân loại, ngay từ buổi bình minh của loài người, Bắc Kạn là một trong những chiếc nôi của người Việt cổ. Ngôn ngữ của người Tày- chủ nhân ban đầu của vùng đất, công cụ đồ đá của người nguyên thủy được liệt vào hàng “phạ” (tức trời) mà loại công cụ tiêu biểu, người dân Bắc Kạn nhặt được nhiều nhất trong quá trình khai phá vùng đất mới là “khoan phạ” (tức rìu đá). Tổng hợp kết quả nghiên cứu khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ 2011- 2017 do Bảo tàng tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Viện Khảo cổ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho thấy khắp các địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đều có di tích và di vật khảo cổ chứng minh dấu tích sinh tồn của người xưa, đặc biệt là ở huyện Ba Bể. Vùng đất Ba Bể (bao gồm cả Pác Nặm), ngay từ rất sớm đã có cư dân nguyên thủy tìm đến sinh sống do nơi này địa hình chủ yếu là những sơn khối đá vôi xen kẽ là những đồi núi thấp, giàu tiềm năng về nguồn lợi thiên nhiên. Nơi đây tập trung nhiều di tích, di vật liên quan đến sự sinh tồn của loài người. Thống kê chưa đầy đủ trên địa bàn huyện Ba Bể có đủ bộ sưu tập công cụ lao động của người nguyên thủy từ thời kỳ đồ đá, đồ kim khí, vũ khí (mũi tên đồng Nà Buốc, An Thắng), trống đồng Bằng Thành…


Bắc Kạn năm 1932. Sưu tầm: Ô Kim Phòng

Lịch sử đấu tranh mở rộng không gian sinh tồn giữ các quốc gia từ thế kỷ thứ II trước công nguyên cho đến đầu thế kỷ XX, cho thấy đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn với tinh thần quật khởi, không cam chịu làm nô lệ đã cùng nhân dân cả nước tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của chế độ phong kiến, thực dân xâm lược.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (ngày 3/2/1930), dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam, đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã sát cánh cùng nhân dân cả nước đấu tranh giành độc lập, tự do. Năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, Người chọn Việt Bắc làm căn cứ địa xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tỉnh Bắc Kạn trở thành cầu nối giữa căn cứ địa Việt Bắc và cả nước. Vấn đề xây dựng và phát triển cách mạng ở tỉnh Bắc Kạn trở nên cấp thiết, phong trào “Nam tiến” được phát động để mở “những con đường quần chúng”, nối căn cứ địa Việt bắc với miền xuôi. Trong năm 1942 và 1943, phong trào Việt Minh của tỉnh Bắc Kạn phát triển rộng khắp, quần chúng nhân dân ở nhiều xã vùng cao của huyện Chợ Rã (nay là huyện Ba Bể), huyện Ngân Sơn được tổ chức vào Hội Việt Minh. Ban Việt minh cấp xã và cấp tổng bắt đầu xuất hiện, các điều kiện để hình thành Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã hội đủ. Tháng 9 năm 1943, dưới chân thác nước nhỏ tại khu ruộng Coỏng Tát thuộc xã Thượng Ân, tổng Bằng Đức, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đồng chí Văn (tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp) thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thay mặt Ban xung phong Nam tiến thành lập chi bộ Đảng của tổng Bằng Đức, huyện Ngân Sơn (để tưởng nhớ đồng chí Phùng Chí Kiên, người cán bộ lãnh đạo kiệt xuất của Đảng hy sinh tại tỉnh Bắc Kạn ngày 22 tháng 8 năm 1941, tổng Bằng Đức, huyện Ngân Sơn được gọi tên bí mật là tổng Chí Kiên và vì thế chi bộ tổng Bằng Đức có tên bí mật là chi bộ Chí Kiên). Chi bộ Chí Kiên được thành lập là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Kạn, từ đây cuộc đấu tranh của đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã hoà cùng và bắt kịp với phong trào cách mạng của cả nước.

Đảng bộ Bắc Kạn, tiền thân là Chi bộ Chí Kiên, ngay từ khi mới thành lập đã lãnh đạo đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đạt được nhiều thành tích vẻ vang.

Trong cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn 1939- 1945, Bắc Kạn nằm ở trung tâm Khu giải phóng Việt Bắc. Giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, Bắc Kạn là địa phương đầu tiên trong cả nước được đồng chí Văn tuyên bố thành lập chính quyền cấp huyện tại châu Trưng Vương (tức huyện Ba Bể, bao gồm cả huyện Pác Nặm) vào ngày 30 tháng 3 năm 1945, trước khi cách mạng tháng Tám thành công. Việc lập chính quyền cách mạng là tiền đề quan trọng, đảm bảo an toàn cho hành trình vào tháng 5 năm 1945 của đoàn cán bộ do “Ông Ké” (Chủ tịch Hồ Chí Minh) dẫn đầu đi từ Pác Bó- Cao Bằng sang Chiêm Hóa- Tuyên Quang chuẩn bị Tổng khởi nghĩa dành chính quyền và tổ chức cuộc mít tinh công khai với đông đảo đồng bào tại Tổng Luyên thuộc thôn Phiêng Chì của xã Thượng Giáo, huyện Ba Bể.

Trong kháng chiến chống Pháp, Bắc Kạn là căn cứ kháng chiến của cả nước. Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, Bắc Kạn được mang danh “Thủ đô kháng chiến”. Khi thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc thu đông năm 1947, quân, dân Bắc Kạn đã cùng với quân, dân cả nước trong 2 tháng đập tan cuộc tấn công chiến lược của chúng. Tuy nhiên để “cắm mũi dùi” sâu trong lòng căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc, thực dân Pháp vẫn chiếm đóng nhiều điểm quan trọng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Không chịu khuất phục, dưới sự lãnh đạo của Trung ương và Bác Hồ, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã trực tiếp tổ chức kháng chiến. Ngày 9 tháng 8 năm 1949 thực dân Pháp buộc phải rút chạy khỏi Bắc Kạn. Nhân dịp tỉnh Bắc Kạn là địa phương đầu tiên trong cả nước sạch bóng quân xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã  gửi thư khen ngợi, động viên, và căn dặn “đồng bào toàn tỉnh Bắc Kạn”  “tuyệt đối chớ chủ quan, khinh địch, chớ sơ xuất kiêu ngạo… phải cố gắng về mọi mặt”.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, phải đương đầu với rất nhiều khó khăn nhưng năm 1963 Bắc Kạn được Chính phủ công nhận là tỉnh đã thanh toán nạn mù chữ, cũng năm 1963 với tinh thần cảnh giác cao, lực lượng vũ trang và đồng bào tỉnh Bắc Kạn đã diệt và bắt gọn toán biệt kích của nguỵ quyền Sài Gòn, ngăn chăn âm mưu xây dựng cơ sở phản động ở vùng cao, kích động nhân dân phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Năm 1965, tỉnh Bắc Kạn sáp nhập với tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh Bắc Thái, hơn 30 năm vừa trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, Bắc Thái trở thành trung tâm công nghiệp nặng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà biểu tượng là những lò cao của nhà máy Gang-thép Thái Nguyên.

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Biên giới phía bắc của Tổ quốc, các huyện của tỉnh Bắc Thái thuộc địa bàn tỉnh Bắc Kạn lại tiếp tục làm hậu phương trực tiếp cho cuộc chiến. Để chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ, ngày 29 tháng 12 năm 1978, tại kỳ họp thứ IV, Quốc hội khóa VI hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã (nay là huyện Ba Bể, Pác Nặm) được chia tách khỏi tỉnh Bắc Thái và sáp nhập vào tỉnh Cao Bằng.

Năm 1997, tỉnh Bắc Kạn được tái lập gồm 5 đơn vị hành chính cấp huyện, thị là Thị xã Bắc Kạn, huyện Ngân Sơn, huyện Ba Bể, huyện Bạch Thông, huyện Chợ Đồn và huyện Na rỳ. Năm 1998, huyện Chợ Mới được thành lập trên cơ sở tách phần phía nam của huyện Bạch Thông. Năm 2003, huyện Ba Bể được chia tách thành 2 huyện Ba Bể và Pác Năm. Năm 2015, thị xã Bắc Kạn đã trở thành thành phố Bắc Kạn.  Hiện nay, tỉnh Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính gồm thành phố Bắc Kạn; huyện Pác Nặm,huyện Ba Bể, huyện Ngân Sơn, huyện Bạch Thông, huyện Chợ Đồn, huyện Chợ Mới, huyện Na Rỳ.

Khi mới thành lập lại, tỉnh Bắc Kạn gặp nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng. Toàn tỉnh còn 25% số xã chưa có đường ô tô đến trung tâm; 2 huyện và 102 xã chưa có điện lưới quốc gia; 93 xã chưa có điện thoại; 71% số phòng học tranh tre, nứa lá, 36% số xã chưa đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ – phổ cập giáo dục tiểu học. Thu ngân sách toàn tỉnh mới đạt hơn 17 tỷ đồng. Tỷ lệ đói nghèo chiếm trên 50%. Toàn tỉnh còn 170 thôn, bản và 37 trường học chưa có đảng viên.

 Xác định “xây dựng Đảng là vấn đề then chôt”, ngay sau khi tái lập tỉnh, Đảng bộ Bắc Kạn tiến hành từng bước đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, tập trung hướng về cơ sở. Các đồng chí lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện đều về cơ sở nắm tình hình và trực tiếp chỉ đạo tại địa bàn được phân công phụ trách. Chế độ giao ban giữa Thường trực Tỉnh uỷ với Uỷ ban nhân dân tỉnh, Bí thư Huyện uỷ – Thị uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện- thị được tiến hành đều đặn, có nền nếp.

Các cấp ủy trong toàn Đảng bộ chăm lo xây dựng Đảng trên tất cả các lĩnh vực. Công tác xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng được Đảng bộ thực hiện thông qua việc thường xuyên tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận… của Trung ương Đảng và của Tỉnh uỷ. Phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang triển khai sâu rộng được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng, tạo nên nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội. Nhiều sự kiện chính trị, văn hóa lớn được tỉnh tổ chức thành công. Các hoạt động chính trị tư tưởng của Đảng bộ đã góp phần nâng cao nhận thức về đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và đồng bào tỉnh Bắc Kạn vào sự lãnh đạo của Đảng.

Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng viên được quan tâm. Đảng bộ được  kiện toàn, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay toàn Đảng bộ có 34.720 đảng viên, chiếm hơn 10% dân số của tỉnh, sinh hoạt tại 11 đảng bộ trực thuộc với 487 tổ chức cơ sở đảng.

Công tác cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm được chú trọng.

Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, các phong trào, các cuộc vận động “Xóa đói, giảm nghèo”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”… được nhân dân tích cực hưởng ứng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, làm cho diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn không ngừng thay đổi và có bước chuyển biến đáng kể.

 Hai mươi ba năm, Bắc Kạn có nhiều thay đổi. Hạ tầng cơ sở được nhà nước quan tâm đầu tư đồng bộ. Hiện nay tất cả các xã, phường, thị trấn của tỉnh đều có điện lưới quốc gia, thông tin điện thoại, đường ô tô đến trung tâm xã và trạm y tế. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn, chiều ngày 24/8/2019 đã đánh giá “tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao liên tục, quy mô kinh tế tăng 11 lần trong 20 năm qua, thu nhập tăng 10 lần, đời sống nhân dân tốt hơn”, tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 còn 19,38%.  Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp- xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông- lâm nghiệp. So sánh năm 1997 với năm 2019 cho thấy tỷ trọng nông- lâm nghiệp đã giảm từ trên 50% xuống còn gần 29,46%; đặc biệt năm 2019 ngành dịch vụ chiếm 52,05% trong tổng cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Sản xuất nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến đã góp phần làm thay đổi tư duy sản xuất của nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa,  hình thành một số vùng cây trồng tập trung mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay cả tỉnh có 5 sản phẩm được công nhận chỉ dẫn địa lý, chứng nhận nhãn hiệu tập thể, hơn 70 sản phẩm được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai tương đối hiệu quả, năm 2019 tỉnh có 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Kinh tế tập thể đang từng bước khẳng định vai trò trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy quy mô nền kinh tế của tỉnh còn nhỏ bé nhưng trên địa bàn tỉnh có 181 hợp tác xã. Hoạt động xúc tiến đầu tư, thu hút nguồn lực cho phát triển kinh tế được tăng cường, hiện tại tỉnh đang tích cực phối hợp với Tập đoàn Vingroup, Công ty cổ phần Tập đoàn FLC và các nhà đầu tư khác nghiên cứu, triển khai một số dự án kết cấu hạ tầng đô thị, du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh.

Công tác giáo dục – đào tạo, công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2005 tỉnh Bắc Kạn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Năm 2016, Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn có quy mô 500 giường bệnh được đưa vào sử dụng đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, dịch bệnh xảy ra trên người ở Bắc Kạn từ khi thành lập tỉnh đến nay không có.

Môi trường văn hóa ở cơ sở được tỉnh quan tâm xây dựng đang từng bước cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của đa số người dân. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có hàng chục ngàn lượt hộ gia đình; hàng trăm lượt tổ dân phố, khu dân cư, làng bản được công nhận đạt danh hiệu văn hoá. Năm 2014, truyền hình Bắc Kạn lên sóng vệ tinh, đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động thông tin, truyền thông của tỉnh.

Các chính sách đối với người có công, công tác an sinh xã hội được chỉ đạo thực hiện kịp thời, đầy đủ. Khoa học công nghệ được quan tâm, góp phần tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội.

Công tác quốc phòng, an ninh được duy trì và củng cố vững chắc. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định, không có “điểm nóng”.

Ghi nhận thành tích của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn Nhà nước đã tặng nhiều phần thưởng cao quý: Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba.

Hướng tới tương lai, xây dựng Bắc Kạn giàu và đẹp, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc kạn quyết tâm tổ chức thực hiện có hiệu quả 4 chương trình trọng tâm mà Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh đã đề ra:

Một là tăng cường xây dựng Đảng, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu tạo bước chuyển biến căn bản trong công tác cán bộ theo phương châm tận tâm với công việc, tâm huyết với quê hương, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới. Có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới.

Hai là đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PARINDEX). Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư vào nông lâm nghiệp và du lịch.

Ba là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung với sản lượng lớn, tạo ra sản phẩm sạch và an toàn đáp ứng nhu cầu thị trường. Phát triển liên kết sản xuất và chuỗi giá trị để nâng cao đời sống dân cư khu vực nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.

Bốn là tăng cường thu hút đầu tư, quan tâm phát triển du lịch và công nghiệp chế biến trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đẩy mạnh phát triển khu du lịch trọng điểm hồ Ba Bể. Phát triển các cụm công nghiệp với trọng tâm là công nghiệp chế biến nông lâm sản và một số ngành có lợi thế của địa phương.

Tài liệu tham khảo

1. Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Bắc Kạn tập 1,2

2. Bác Hồ trong lòng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn.

3. Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 26/4/2016 của Tỉnh ủy, xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018 – 2020;

4. Kế hoạch thực hiện Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” năm 2019   (Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 10/01/2019)

5. Báo cáo 648/BC-UBND, ngày 18/11/2019 của UBND tỉnh về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng- an ninh năm 2019; nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2020.

6. Đề cương tuyên truyền 120 năm thành lập tỉnh Bắc Kạn.

7. Một số tác phẩm báo chí TW và địa phương phản ánh hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn tỉnh.

HOÀNG LAN

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC

Trại sáng tác văn học nghệ thuật khu vực Đồng bằng Trung du và...

Từ ngày 20-27/9/2022, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức Trại sáng...

Hội Văn học nghệ thuật hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới

Hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới của tỉnh, ngày 23/9/2022 các Hội: Văn học nghệ thuật, Chữ thập đỏ, Nhà báo,...

Triển lãm tranh cá nhân của họa sĩ Trần Giang Nam

Từ ngày 5-14/7/2022  hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, hội viên Hội VHNT tỉnh Bắc Kạn diễn ra tại Nhà triển lãm 16...

Đoàn Nghệ sỹ Bắc Kạn đi thực tế sáng tác vùng cao

Trong hay ngày 4-5/6, các nghệ sỹ thuộc chuyên ngành Nhiếp ảnh và Mỹ Thuật của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn...

Hội Văn học nghệ thuật tỉnh tặng sách nhân ngày Văn hóa đọc

Vừa qua nhân ngày Văn hóa đọc Việt Nam 21/4/2022 Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh đã tặng sách gần 200 cuốn sách và...

Bài viết mới

View Counter

000392
Views Today : 1
Views This Month : 13
Views This Year : 971
Total views : 1449
Language
Skip to content